Trong các khoản chi mang tính chất phúc lợi dành cho người lao động, có những khoản được miễn thuế thu nhập cá nhân và không phải tính vào thu nhập chịu thuế. Tuy nhiên, cũng có những khoản bắt buộc phải cộng vào thu nhập chịu thuế để xác định số thuế TNCN phải nộp.
Cụ thể như sau:
Khoản hỗ trợ do người sử dụng lao động chi trả để phục vụ việc khám chữa bệnh hiểm nghèo cho người lao động hoặc thân nhân của người lao động sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Thân nhân của người lao động trong trường hợp này bao gồm:
Mức hỗ trợ được miễn thuế là số tiền thực tế doanh nghiệp chi trả căn cứ trên chứng từ viện phí, nhưng không vượt quá phần viện phí mà người lao động hoặc thân nhân phải thanh toán sau khi đã trừ khoản chi trả từ tổ chức bảo hiểm.
Khi thực hiện khoản hỗ trợ này, người sử dụng lao động có trách nhiệm lưu giữ các hồ sơ, chứng từ liên quan, bao gồm:
Căn cứ: Tiết g.1, điểm g, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Khoản tiền vé máy bay khứ hồi do người sử dụng lao động thanh toán hoặc trả thay cho:
được về phép mỗi năm một lần sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Căn cứ để xác định khoản chi này bao gồm hợp đồng lao động và chứng từ thanh toán vé máy bay:
Căn cứ: Tiết g.6, điểm g, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Khoản học phí do doanh nghiệp chi trả hộ cho:
áp dụng đối với bậc học từ mầm non đến hết trung học phổ thông sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Căn cứ: Tiết g.7, điểm g, khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Các khoản tiền do tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập chi cho đám hiếu, hỷ của bản thân hoặc gia đình người lao động theo quy chế chung của đơn vị và phù hợp với mức chi được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Căn cứ: Khoản 5 Điều 11 Thông tư số 92/2015/TT-BTC bổ sung tiết g.10 điểm g khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Khoản chi về phương tiện đưa đón người lao động từ nơi cư trú đến nơi làm việc và ngược lại theo quy chế của doanh nghiệp không được tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động.
Căn cứ: Tiết đ.5 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Khoản tiền doanh nghiệp chi trả hộ để đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ hoặc tay nghề cho người lao động phù hợp với công việc đang đảm nhiệm hoặc theo kế hoạch đào tạo của đơn vị sử dụng lao động sẽ không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Căn cứ: Tiết đ.6 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Các khoản tiền do người sử dụng lao động chi để:
đều được xác định là khoản thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp mua cho người lao động các sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có yếu tố tích lũy phí bảo hiểm thì khoản phí bảo hiểm này không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Quy định này áp dụng kể cả đối với trường hợp doanh nghiệp mua bảo hiểm của các công ty bảo hiểm nước ngoài được phép cung cấp sản phẩm bảo hiểm tại Việt Nam.
Các loại bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy phí bảo hiểm bao gồm:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 11 Thông tư số 92/2015/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung tiết đ.2 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC).
Các khoản phí hội viên hoặc chi phí dịch vụ phục vụ nhu cầu cá nhân như chăm sóc sức khỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ được xác định như sau:
Căn cứ: Tiết đ.3 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Những khoản lợi ích mà người sử dụng lao động chi trả cho người lao động dưới các hình thức sau phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN:
Căn cứ: Tiết đ.7 điểm đ khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Việc xác định thuế TNCN đối với khoản chi nghỉ mát được thực hiện như sau:
Ví dụ 1:
Công ty Minh Thành không tổ chức chương trình du lịch tập thể mà hỗ trợ trực tiếp cho mỗi người lao động số tiền 5 triệu đồng để tự sắp xếp chuyến nghỉ dưỡng cùng gia đình.
Khi người lao động nhận khoản hỗ trợ này vào tháng 5/2025, doanh nghiệp lập chứng từ chi riêng cho từng cá nhân nên số tiền 5 triệu đồng sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế của từng người trong tháng 5/2025 để xác định thuế TNCN.
Ví dụ 2:
Năm 2025, Công ty Thành Công tổ chức chương trình nghỉ mát cho toàn bộ người lao động với mức hỗ trợ tương đương 5 triệu đồng/người.
Do khoản chi này được thực hiện cho tập thể và không xác định riêng từng cá nhân hưởng lợi nên không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động.
Căn cứ: Công văn số 1982/TCT-DNNCN ngày 10/5/2024 của Tổng cục Thuế.
Việc xác định thuế TNCN đối với khoản chi mua thẻ chơi Golf được thực hiện như sau:
Căn cứ: Công văn số 39488/CTHN-TTHT ngày 04/7/2024 của Cục Thuế TP. Hà Nội.
Điều 15 Thông tư số 92/2015/TT-BTC sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 2 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định:
Mức đóng vào quỹ hưu trí tự nguyện hoặc phí bảo hiểm hưu trí tự nguyện được giảm trừ khỏi thu nhập chịu thuế theo số thực tế phát sinh nhưng tối đa không quá 01 triệu đồng/tháng đối với mỗi người lao động, bao gồm cả phần do người sử dụng lao động đóng và phần người lao động tự đóng (nếu có).
Theo các quy định hiện hành, khoản đóng góp vào quỹ hưu trí tự nguyện hoặc khoản phí bảo hiểm hưu trí có tích lũy do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.
Người lao động được giảm trừ khoản đóng góp này khi tính thuế theo mức thực tế phát sinh nhưng tối đa không quá 01 triệu đồng/tháng.
Các khoản thưởng bằng tiền hoặc hiện vật dành cho con em cán bộ, nhân viên đạt thành tích học tập tốt như:
nếu không thuộc nhóm tiền thưởng quy định tại điểm e.1 khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC thì được xác định là thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.
Căn cứ: Công văn số 23290/CTHN-TTHT ngày 23/4/2024 của Cục Thuế TP. Hà Nội.
Theo hướng dẫn tại Công văn số 6524/CTTPHCM-TTHT ngày 08/6/2022 của Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh:
Trường hợp khoản chi khám sức khỏe định kỳ ghi rõ tên cá nhân được hưởng thì khoản chi này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của người lao động theo quy định tại điểm đ.3.2 khoản 2 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.