Trợ cấp mất việc làm là khoản tiền do người sử dụng lao động chi trả cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên nhưng bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14.
Đối với điều kiện hưởng và phương pháp xác định mức trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật Lao động, người đọc có thể tham khảo các quy định hiện hành liên quan.
Trong nội dung dưới đây, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu khoản trợ cấp mất việc làm do doanh nghiệp chi trả cho người lao động có thuộc diện chịu thuế thu nhập cá nhân hay không.
Theo quy định tại tiết b.6 điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC, trợ cấp mất việc làm thuộc nhóm khoản trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Trích quy định
Điều 2. Các khoản thu nhập chịu thuế
2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công
b) Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp sau:
b.6) Trợ cấp khó khăn đột xuất; trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi; chế độ thai sản; dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản; trợ cấp do suy giảm khả năng lao động; trợ cấp hưu trí một lần; tiền tuất hàng tháng; trợ cấp thôi việc; trợ cấp mất việc làm; trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp khác theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội.
Các khoản phụ cấp, trợ cấp và mức hưởng không tính vào thu nhập chịu thuế phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định.
Trường hợp mức phụ cấp, trợ cấp thực tế nhận được cao hơn mức quy định thì phần vượt phải tính vào thu nhập chịu thuế.
Kết luận
Đối với khoản trợ cấp mất việc làm, việc xác định thuế TNCN được thực hiện như sau:
Ví dụ: Xác định mức trợ cấp mất việc làm phải chi trả cho người lao động
Ông Nguyễn Hoàng Nam có quá trình làm việc tại Công ty Bảo An như sau:
Đến tháng 08/2025, do gặp khó khăn về kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả nên Công ty Bảo An không thể tiếp tục bố trí việc làm cho ông Nguyễn Hoàng Nam và phải chấm dứt việc làm của ông kể từ ngày 01/09/2025.
Thông tin bổ sung
=> Thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp là 02 năm 06 tháng.
Xác định điều kiện hưởng trợ cấp mất việc làm
Ông Nguyễn Hoàng Nam đã làm việc thường xuyên tại Công ty Bảo An trong thời gian 02 năm 08 tháng và bị mất việc làm vì lý do kinh tế.
=> Đây là trường hợp người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên và bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 Bộ luật Lao động.
=> Do đó, ông Nguyễn Hoàng Nam thuộc đối tượng được hưởng trợ cấp mất việc làm theo quy định.
=> Khi chấm dứt việc làm, Công ty Bảo An có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho ông Nguyễn Hoàng Nam.
Tính mức trợ cấp mất việc làm
Vì thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm chỉ còn 02 tháng, thấp hơn 24 tháng nên theo quy định, Công ty Bảo An phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho ông Nguyễn Hoàng Nam tối thiểu bằng 02 tháng tiền lương.
Tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm được xác định như sau:
(Tiền lương tháng 03/2025 + tháng 04/2025 + tháng 05/2025 + tháng 06/2025 + tháng 07/2025 + tháng 08/2025) / 6
= (9.000.000 + 9.000.000 + 9.000.000 + 9.000.000 + 9.000.000 + 9.000.000) / 6
= 9.000.000 đồng/tháng
Số tiền trợ cấp mất việc làm mà Công ty Bảo An phải thanh toán cho ông Nguyễn Hoàng Nam được xác định như sau:
9.000.000 đồng × 02 = 18.000.000 đồng
=> Như vậy, số tiền trợ cấp mất việc làm Công ty Bảo An phải chi trả cho ông Nguyễn Hoàng Nam là 18.000.000 đồng.
=> Trong ví dụ nêu trên, người lao động được nhận trợ cấp mất việc làm đúng đối tượng và đúng mức theo quy định của Bộ luật Lao động. Do đó, khoản tiền này không thuộc thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công.
=> Vì vậy, khi nhận khoản trợ cấp mất việc làm 18.000.000 đồng, ông Nguyễn Hoàng Nam không phải cộng khoản tiền này vào thu nhập chịu thuế để tính thuế TNCN. Nói cách khác, khoản trợ cấp 18.000.000 đồng không thuộc diện chịu thuế TNCN.
Giả sử Công ty Bảo An chi trả trợ cấp mất việc làm cho ông Nguyễn Hoàng Nam với số tiền 20.000.000 đồng.
=> Như vậy, số tiền doanh nghiệp chi trả đang cao hơn mức trợ cấp mất việc làm được xác định theo quy định của Bộ luật Lao động là:
20.000.000 đồng - 18.000.000 đồng = 2.000.000 đồng
=> Phần chi vượt 2.000.000 đồng này phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của ông Nguyễn Hoàng Nam.
=> Ông Nguyễn Hoàng Nam chỉ được miễn thuế TNCN đối với khoản trợ cấp mất việc làm trong phạm vi mức hưởng theo quy định của Bộ luật Lao động là 18.000.000 đồng. Phần chi trả vượt mức quy định phải cộng vào thu nhập chịu thuế để xác định thuế TNCN.