google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk

Đối thoại tại nơi làm việc là gì? có bắt buộc không? Cách tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Đối thoại tại nơi làm việc là gì? có bắt buộc không? Cách tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Chế định pháp lý về hoạt động tổ chức đối thoại tại cơ sở làm việc hiện thời được điều chỉnh tại Điều 63 thuộc Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 và được chỉ dẫn triển khai chi tiết thông qua các điều khoản tại Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

1. Bản chất của hoạt động đối thoại tại cơ sở làm việc

Chiểu theo quy chuẩn tại khoản 1 Điều 63 thuộc Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 làm rõ:

Hoạt động đối thoại tại cơ sở làm việc được định nghĩa là tiến trình chia sẻ thông tin dữ liệu, tham vấn ý kiến, bàn bạc và thảo luận qua lại giữa đơn vị sử dụng lao động với tập thể nhân sự hoặc ban đại diện người lao động liên quan tới những vấn đề tác động trực tiếp đến quyền hạn, lợi ích hợp pháp cùng mối bận tâm chung của các chủ thể tại nơi làm việc. Mục tiêu cốt lõi là thúc đẩy sự thấu hiểu, tăng cường khả năng hợp tác, cùng đồng lòng hướng đến các biện pháp xử lý mà đôi bên cùng có lợi.

2. Tính chất bắt buộc của việc tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

Chiểu theo quy chuẩn tại khoản 2 Điều 63 thuộc Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, doanh nghiệp bắt buộc phải đứng ra thiết lập hoạt động đối thoại trong các bối cảnh cụ thể sau đây:

a) Định kỳ hằng năm: Triển khai thường niên tối thiểu 01 lần;

b) Theo nguyện vọng đột xuất: Khi phát sinh văn bản yêu cầu từ một phía hoặc từ cả hai bên;

c) Khi xuất hiện các sự vụ đặc thù được chế định tại điểm a khoản 1 Điều 36, các điều 42, 44, 93, 104, 118 và khoản 1 Điều 128 thuộc Bộ luật này. Cụ thể gồm:

Điều 36 (Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của chủ doanh nghiệp): Áp dụng khi nhân sự thường kỳ không hoàn thành phần việc theo giao kết hợp đồng, được định biên dựa trên hệ thống tiêu chí đánh giá tại quy chế nội bộ. Văn bản quy chế này do chủ doanh nghiệp ban hành nhưng bắt buộc phải tham khảo ý kiến của ban đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

Điều 42 (Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp khi cải tổ mô hình hoặc vì trở ngại kinh tế): Gồm các hoàn cảnh thuyên chuyển cơ cấu tổ chức, quy hoạch lại nhân sự; thay đổi giải pháp công nghệ, quy trình vận hành, máy móc thiết bị gắn liền với chuyên môn sản xuất; điều chỉnh danh mục hoặc cấu trúc thành phẩm. Hoặc do bối cảnh suy thoái tài chính, thực thi chính sách tái cơ cấu kinh tế của Nhà nước. Tiến trình cho nhân sự nghỉ việc chỉ được thông qua sau khi đã bàn bạc thảo luận ý kiến với ban đại diện lao động tại cơ sở và hoàn tất thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cùng người lao động.

Điều 128 (Tạm đình chỉ công việc): Chủ doanh nghiệp được quyền tạm thời cho nhân sự ngừng công tác khi vụ việc sai phạm phát sinh nhiều chi tiết rắc rối, nếu nhận định việc để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây cản trở cho khâu điều tra làm rõ. Biện pháp này chỉ được thực thi sau khi đã tham khảo ý kiến từ tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

???? Kết luận nghiệp vụ: Việc tổ chức hoạt động đối thoại tại cơ sở làm việc là trách nhiệm pháp lý mang tính bắt buộc của doanh nghiệp khi rơi vào các hoàn cảnh nêu trên. Ngoài ra, pháp luật khuyến khích đôi bên chủ động tiến hành đối thoại nằm ngoài các trường hợp bắt buộc để củng cố quan hệ lao động ổn định (theo khoản 3 Điều 63).

3. Chế tài hành chính đối với các sai phạm về đối thoại tại nơi làm việc

Căn cứ theo các nguyên tắc xử phạt tại Điều 15 thuộc Nghị định 12/2022/NĐ-CP điều chỉnh về xử phạt vi phạm hành chính trong phân khúc lao động, chủ doanh nghiệp sẽ bị khấu trừ tài chính từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu phát sinh một trong các hành vi sai phạm sau:

1. Trì hoãn việc thiết lập, ký ban hành hoặc bổ sung, sửa đổi văn bản quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc tuân thủ luật định.

2. Bỏ sót không triển khai hoạt động đối thoại định kỳ; khước từ tổ chức đối thoại khi nhận được yêu cầu hợp pháp; không phối hợp triển khai hội nghị người lao động đúng chuẩn quy định.

3. Không thực hiện công khai minh bạch các hạng mục cốt lõi của kết quả đối thoại hoặc văn bản quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

4. Từ chối chuẩn bị hoặc bố trí không gian địa điểm, quỹ thời gian cùng hệ thống điều kiện cơ sở vật chất cần thiết khác phục vụ cho cuộc đối thoại.

5. Không tham gia hoặc cử nhân sự đại diện cho phía chủ doanh nghiệp tham gia cuộc đối thoại sai lệch so với thành phần cấu phần quy chuẩn.

6. Trì hoãn, không thực hiện báo cáo diễn biến tình hình tổ chức đối thoại và vận hành quy chế dân chủ cơ sở với cơ quan quản lý nhà nước về lao động khi có văn bản yêu cầu.

4. Quy trình và phương thức tổ chức đối thoại tại cơ sở bám sát Nghị định 145/2020/NĐ-CP

 

Chương V

 

ĐỐI THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC

 

Mục 1. TỔ CHỨC ĐỐI THOẠI TẠI NƠI LÀM VIỆC

 

Điều 37. Trách nhiệm tổ chức đối thoại tại nơi làm việc

 

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (nếu có) để tổ chức đối thoại tại nơi làm việc theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động.

 

Ở nơi làm việc có người lao động không tham gia là thành viên của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở thì người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (nếu có) hướng dẫn, hỗ trợ, tạo điều kiện để những người lao động này tự lựa chọn thành viên đại diện cho họ (sau đây gọi là nhóm đại diện đối thoại của người lao động) để tham gia đối thoại với người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động. Số lượng thành viên nhóm đại diện đối thoại của người lao động xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Nghị định này.

 

2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định cụ thể trong quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc các nội dung chủ yếu sau để tổ chức đối thoại tại nơi làm việc theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động:

 

a) Nguyên tắc đối thoại tại nơi làm việc;

 

b) Số lượng, thành phần tham gia đối thoại của mỗi bên theo quy định tại Điều 38 Nghị định này;

 

c) Số lần, thời gian tổ chức đối thoại định kỳ hằng năm;

 

d) Cách thức tổ chức đối thoại định kỳ, đối thoại khi có yêu cầu của một hoặc các bên, đối thoại khi có vụ việc;

 

đ) Trách nhiệm của các bên khi tham gia đối thoại theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động;

 

e) Việc áp dụng quy định tại Điều 176 của Bộ luật Lao động đối với các thành viên đại diện tham gia đối thoại bên người lao động mà không phải là thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

 

g) Nội dung khác (nếu có).

 

3. Ngoài quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người sử dụng lao động có trách nhiệm:

 

a) Cử đại diện bên người sử dụng lao động tham gia đối thoại tại nơi làm việc theo quy định;

 

b) Bố trí địa điểm, thời gian và các điều kiện vật chất cần thiết khác để tổ chức các cuộc đối thoại tại nơi làm việc;

 

c) Báo cáo tình hình thực hiện đối thoại và quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc với cơ quan quản lý nhà nước về lao động khi được yêu cầu.

 

4. Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại của người lao động có trách nhiệm:

 

a) Cử thành viên đại diện tham gia đối thoại theo quy định;

 

b) Tham gia ý kiến với người sử dụng lao động về nội dung quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;

 

c) Lấy ý kiến người lao động, tổng hợp và chuẩn bị nội dung đề nghị đối thoại;

 

d) Tham gia đối thoại với người sử dụng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động, Nghị định này và quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

 

5. Khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động, tổ chức đại diện người lao động tiến hành đối thoại ngoài những trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động phù hợp với điều kiện tổ chức sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động tại nơi làm việc và quy định cụ thể trong quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

 

Điều 38. Số lượng, thành phần tham gia đối thoại

 

Số lượng, thành phần tham gia đối thoại tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

 

1. Bên người sử dụng lao động

 

Căn cứ điều kiện sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động, người sử dụng lao động quyết định số lượng, thành phần đại diện cho mình để tham gia đối thoại bảo đảm ít nhất 03 người, trong đó có người đại diện theo pháp luật của người sử dụng lao động và quy định trong quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

 

2. Bên người lao động

 

a) Căn cứ điều kiện sản xuất, kinh doanh, tổ chức lao động, cơ cấu, số lượng lao động và các yếu tố bình đẳng giới, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại của người lao động xác định số lượng, thành phần tham gia đối thoại nhưng phải bảo đảm số lượng như sau:

 

a1) Ít nhất 03 người, nếu người sử dụng lao động sử dụng dưới 50 người lao động;

 

a2) Ít nhất từ 04 người đến 08 người, nếu người sử dụng lao động sử dụng từ 50 người lao động đến dưới 150 người lao động;

 

a3) Ít nhất từ 09 người đến 13 người, nếu người sử dụng lao động sử dụng từ 150 người lao động đến dưới 300 người lao động;

 

a4) Ít nhất từ 14 người đến 18 người, nếu người sử dụng lao động sử dụng từ 300 người lao động đến dưới 500 người lao động;

 

a5) Ít nhất từ 19 đến 23 người, nếu người sử dụng lao động sử dụng từ 500 đến dưới 1.000 người lao động;

 

a6) Ít nhất 24 người, nếu người sử dụng lao động sử dụng từ 1.000 người lao động trở lên.

 

b) Căn cứ số lượng người đại diện đối thoại của bên người lao động quy định tại điểm a khoản này, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở và nhóm đại diện đối thoại của người lao động xác định số lượng đại diện tham gia đối thoại tương ứng theo tỷ lệ thành viên của tổ chức và nhóm mình trên tổng số lao động của người sử dụng lao động.

 

3. Việc xác định danh sách thành viên đại diện tham gia đối thoại của bên người sử dụng lao động và bên người lao động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện định kỳ ít nhất 02 năm một lần và công bố công khai tại nơi làm việc. Trong khoảng thời gian giữa 02 kỳ, xác định thành viên tham gia đối thoại, nếu có thành viên đại diện không thể tiếp tục tham gia thì người sử dụng lao động hoặc từng tổ chức đại diện người lao động, nhóm đại diện đối thoại của người lao động xem xét, quyết định bổ sung thành viên thay thế của tổ chức, nhóm mình và công bố công khai tại nơi làm việc.

 

4. Khi tiến hành đối thoại theo quy định tại khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động, ngoài các thành viên tham gia đối thoại quy định tại khoản 3 Điều này, hai bên thống nhất mời tất cả người lao động hoặc một số người lao động liên quan cùng tham gia đối thoại, bảo đảm có sự tham gia của đại diện lao động nữ khi đối thoại về các nội dung liên quan đến quyền, lợi ích của lao động nữ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Lao động.

 

Điều 39. Tổ chức đối thoại định kỳ tại nơi làm việc

 

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm phối hợp với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nhóm đại diện đối thoại của người lao động tổ chức đối thoại định kỳ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 63 của Bộ luật Lao động và quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

 

2. Thành phần tham gia đối thoại định kỳ là đại diện hai bên theo quy định tại khoản 3 Điều 38 Nghị định này. Thời gian, địa điểm, cách thức tổ chức đối thoại định kỳ do hai bên sắp xếp phù hợp với điều kiện thực tế và theo quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.

 

3. Chậm nhất 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu tổ chức đối thoại định kỳ, các bên có trách nhiệm gửi nội dung đối thoại cho bên tham gia đối thoại.

 

4. Đối thoại định kỳ chỉ được tiến hành khi bên người sử dụng lao động có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền và bên người lao động có sự tham gia của trên 70% tổng số thành viên đại diện quy định tại khoản 3 Điều 38 Nghị định này. Diễn biến đối thoại phải được ghi thành biên bản và có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của người sử dụng lao động hoặc người được ủy quyền và chữ ký của người đại diện từng tổ chức đại diện người lao động (nếu có) và của người đại diện cho nhóm đại diện đối thoại của người lao động (nếu có).

 

5. Chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đối thoại, người sử dụng lao động có trách nhiệm công bố công khai tại nơi làm việc những nội dung chính của đối thoại; tổ chức đại diện người lao động (nếu có), nhóm đại diện đối thoại của người lao động (nếu có) phổ biến những nội dung chính của đối thoại đến người lao động là thành viên.

 

Điều 40. Tổ chức đối thoại khi có yêu cầu của một hoặc các bên

 

1. Việc tổ chức đối thoại khi có yêu cầu của một hoặc các bên được tiến hành khi nội dung yêu cầu đối thoại của bên đề nghị đối thoại bảo đảm các điều kiện sau:

 

a) Đối với bên người sử dụng lao động, nội dung yêu cầu đối thoại phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người sử dụng lao động;

 

b) Đối với bên người lao động, nội dung yêu cầu đối thoại phải được sự đồng ý của ít nhất 30% số thành viên đại diện của bên người lao động tham gia đối thoại quy định tại khoản 3 Điều 38 Nghị định này.

 

2. Chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ khi nhận được nội dung yêu cầu đối thoại quy định tại khoản 1 Điều này, bên nhận được yêu cầu đối thoại phải có văn bản trả lời, thống nhất về thời gian, địa điểm tổ chức đối thoại. Người sử dụng lao động và đại diện đối thoại bên người lao động có trách nhiệm phối hợp, tiến hành tổ chức đối thoại.

 

3. Diễn biến đối thoại phải được ghi thành biên bản và có chữ ký của đại diện các bên tham gia đối thoại theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Nghị định này.

 

4. Chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đối thoại, người sử dụng lao động có trách nhiệm công bố công khai tại nơi làm việc những nội dung chính của đối thoại; tổ chức đại diện người lao động (nếu có), nhóm đại diện đối thoại của người lao động (nếu có) phổ biến những nội dung chính của đối thoại đến người lao động là thành viên.

 

Điều 41. Tổ chức đối thoại khi có vụ việc

 

1. Đối với vụ việc người sử dụng lao động phải tham khảo, trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở về quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36; cho thôi việc đối với người lao động theo quy định tại Điều 42; phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 44; thang lương, bảng lương và định mức lao động theo quy định tại Điều 93; quy chế thưởng theo quy định tại Điều 104 và nội quy lao động theo quy định tại Điều 118 của Bộ luật Lao động được thực hiện như sau:

 

a) Người sử dụng lao động có trách nhiệm gửi văn bản kèm theo nội dung cần tham khảo, trao đổi ý kiến đến các thành viên đại diện tham gia đối thoại của bên người lao động;

 

b) Các thành viên đại diện tham gia đối thoại của bên người lao động có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến người lao động do mình đại diện và tổng hợp thành văn bản của từng tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nhóm đại diện đối thoại của người lao động để gửi tới người sử dụng lao động; trường hợp nội dung đối thoại liên quan đến quyền, lợi ích của lao động nữ thì cần bảo đảm lấy ý kiến của họ;

 

c) Căn cứ ý kiến của các tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, nhóm đại diện đối thoại của người lao động, người sử dụng lao động tổ chức đối thoại để thảo luận, trao đổi ý kiến, tham vấn, chia sẻ thông tin về những nội dung người sử dụng lao động đưa ra;

 

d) Số lượng, thành phần tham gia, thời gian, địa điểm tổ chức đối thoại do hai bên xác định theo quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;

 

đ) Diễn biến đối thoại phải được ghi thành biên bản và có chữ ký của đại diện các bên tham gia đối thoại theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Nghị định này;

 

e) Chậm nhất 03 ngày làm việc kể từ khi kết thúc đối thoại, người sử dụng lao động có trách nhiệm công bố công khai tại nơi làm việc những nội dung chính của đối thoại; tổ chức đại diện người lao động (nếu có), nhóm đại diện đối thoại của người lao động (nếu có) phổ biến những nội dung chính của đối thoại đến người lao động là thành viên.

 

2. Đối với vụ việc tạm đình chỉ công việc của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Lao động thì người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động mà người lao động bị tạm đình chỉ công việc là thành viên có thể trao đổi bằng văn bản hoặc thông qua trao đổi trực tiếp giữa đại diện tham gia đối thoại của bên người sử dụng lao động và đại diện đối thoại của tổ chức đại diện người lao động.

 


 

Đăng ký nhận khuyến mãi Kế Toán Thuế Đà Nẵng

zalo