google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk
Hoạt động đàm phán tập thể được định nghĩa là quá trình trao đổi, xác lập thỏa thuận giữa một bên gồm một hoặc nhiều đoàn thể đại diện cho tập thể nhân sự với bên còn lại gồm một hoặc nhiều chủ sử dụng lao động hoặc cơ sở đại diện cho người sử dụng lao động. Mục đích cốt lõi nhằm định biên các điều kiện làm việc, chế định mối liên hệ qua lại giữa các chủ thể, đồng thời kiến tạo một quan hệ lao động tiến bộ, ổn định và đồng thuận.
Chiểu theo nguyên tắc tại Điều 66 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 chế định:
Điều 66. Nguyên tắc đàm phán tập thể
Quá trình đàm phán tập thể bắt buộc phải triển khai dựa trên nền tảng tự nguyện, phối hợp hợp tác, tinh thần thiện chí, thế chủ thể bình đẳng và đảm bảo tính công khai, minh bạch.
=> Như vậy: Pháp luật hiện hành hoàn toàn không mang tính bắt buộc các bên phải tiến hành hoạt động đàm phán tập thể.
Chiểu theo quy chuẩn tại Điều 67 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, các bên tham gia được quyền lựa chọn một hoặc một số hạng mục cụ thể dưới đây nhằm triển khai đàm phán tập thể:
1. Tiền lương, các khoản phụ cấp, trợ cấp, quy trình nâng bậc thù lao, tiền thưởng, định mức bữa ăn giữa ca cùng hệ thống đãi ngộ phúc lợi khác;
2. Hạn mức định biên lao động, quỹ thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, hoạt động tăng ca làm thêm giờ, quãng nghỉ giải lao giữa ca;
3. Trách nhiệm bảo đảm vị trí việc làm ổn định dành cho nhân sự;
4. Bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh môi trường làm việc; chấp hành và thực thi nghiêm chỉnh quy chế lao động nội bộ;
5. Tiêu chuẩn điều kiện, hệ thống cơ sở vật chất vận hành của đoàn thể đại diện tập thể nhân sự; mối liên hệ mật thiết giữa chủ doanh nghiệp và tổ chức đại diện người lao động;
6. Hệ thống vận hành, giải pháp phòng ngừa và xử lý triệt để các xung đột (tranh chấp) lao động;
7. Bảo đảm cán cân bình đẳng giới, thực thi chế độ bảo vệ thai sản, chế độ nghỉ phép thường niên; phòng ngừa và bài trừ các hành vi bạo lực, quấy rối tình dục tại cơ sở làm việc;
8. Các hạng mục nội dung đặc thù khác mà một hoặc tất cả các bên cùng dành sự quan tâm.
Thực hiện tuân thủ các quy chuẩn tại Điều 68 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 cụ thể như sau:
Điều 68. Thẩm quyền đàm phán tập thể của đoàn thể đại diện người lao động tại cơ sở trong doanh nghiệp
1. Đoàn thể đại diện tập thể nhân sự tại cơ sở sở hữu quyền hạn yêu cầu khởi động đàm phán tập thể khi tích lũy đủ tỷ lệ lượng thành viên tối thiểu tính trên tổng số nhân sự đang công tác tại công ty dựa theo các quy chuẩn của Cơ quan Chính phủ.
2. Kịch bản cơ sở kinh doanh hiện hữu cùng lúc nhiều đoàn thể đại diện tập thể nhân sự tại cơ sở đáp ứng đúng nguyên tắc tại khoản 1 Điều này, thì tổ chức nắm giữ quyền hạn đưa ra yêu cầu đàm phán là đơn vị sở hữu tổng số lượng thành viên đông đảo nhất trong doanh nghiệp. Các hệ thống tổ chức đại diện nhân sự tại cơ sở còn lại được phép cùng phối hợp tham gia vào bàn đàm phán tập thể khi đạt được sự chấp thuận từ phía đoàn thể đại diện lao động nắm quyền yêu cầu.
3. Kịch bản công ty sở hữu nhiều đoàn thể đại diện tập thể nhân sự tại cơ sở nhưng hoàn toàn khuyết thiếu đơn vị thỏa mãn nguyên tắc ở khoản 1 Điều này, thì các hệ thống tổ chức này được quyền tự nguyện liên kết, gộp chung với nhau nhằm đưa ra yêu cầu đàm phán tập thể, với điều kiện tổng lượng thành viên tích lũy của khối liên kết phải chạm định mức tỷ lệ tối thiểu quy định ở khoản 1 Điều này.
4. Cơ quan Chính phủ chịu trách nhiệm chế định khâu giải quyết các bất đồng, xung đột phát sinh giữa các chủ thể liên quan tới thẩm quyền đàm phán tập thể.
Chiểu theo nội dung quy định tại Điều 69 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 làm rõ:
1. Định lượng số lượng cá nhân tham gia vào bàn đàm phán tập thể của mỗi phía sẽ do đôi bên cùng nhau bàn bạc, thống nhất.
2. Cấu phần thành viên tham gia đàm phán tập thể của mỗi bên sẽ do chính bên đó tự đứng ra quyết định.
Kịch bản phía tập thể nhân sự có sự xuất hiện của nhiều hệ thống đoàn thể đại diện cùng phối hợp tham gia đàm phán bám sát khoản 2 Điều 68 thuộc Bộ luật này, thì đơn vị nắm quyền chủ động yêu cầu đàm phán sẽ định biên rõ số lượng đại diện phân bổ cho từng tổ chức cùng tham gia.
Kịch bản phía tập thể nhân sự có sự hiện diện của nhiều đoàn thể đại diện phối hợp tham gia đàm phán bám sát khoản 3 Điều 68 thuộc Bộ luật này, thì định lượng nhân sự đại diện của từng đơn vị sẽ do các tổ chức tự bàn bạc thỏa thuận. Tình huống không thống nhất được tiếng nói chung, mỗi đơn vị tự định biên số lượng cá nhân tham gia tương ứng dựa theo tỷ lệ thành viên của tổ chức mình tính trên tổng lượng thành viên của toàn bộ các tổ chức liên kết.
3. Mỗi bên tham gia đàm phán tập thể được quyền chủ động kính mời đơn vị đại diện cấp trên trực tiếp của mình phân công cá nhân tham gia vào ban đại diện đàm phán và bên đối phương tuyệt đối không được từ chối. Số lượng cá nhân tham gia ban đại diện đàm phán tập thể của mỗi bên giới hạn không vượt quá định mức thỏa thuận quy định ở khoản 1 Điều này, loại trừ kịch bản được bên đối diện chấp thuận đồng ý.
Thực hiện bám sát theo các nguyên tắc tại Điều 70 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 cụ thể như sau:
Điều 70. Các bước triển khai quy trình đàm phán tập thể trong phạm vi doanh nghiệp
1. Khi tiếp nhận văn bản yêu cầu đàm phán tập thể phát ra từ đoàn thể đại diện tập thể nhân sự tại cơ sở nắm giữ thẩm quyền quy định cụ thể tại Điều 68 thuộc Bộ luật này hoặc yêu cầu xuất phát từ phía chủ sử dụng lao động, bên tiếp nhận thông tin tuyệt đối không được khước từ việc đàm phán. (Nội dung Điều 68 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 độc giả tham chiếu tại mục số 3 phía trên).
Trong thời hạn 07 ngày làm việc tính từ thời điểm nhận được văn bản đề nghị cùng danh mục các mục tiêu đàm phán, đôi bên tiến hành bàn bạc để thống nhất về địa điểm không gian cùng mốc thời gian khởi động phiên đàm phán.
Chủ doanh nghiệp có trách nhiệm phải bố trí đầy đủ về mặt quỹ thời gian, vị trí không gian địa điểm cùng hệ thống điều kiện cơ sở vật chất nền tảng phục vụ cho việc tổ chức các phiên họp đàm phán tập thể.
Khung thời gian bắt đầu triển khai phiên đàm phán giới hạn tối đa không vượt quá 30 ngày tính từ ngày nhận được văn bản đề nghị đàm phán tập thể.
2. Tổng quỹ thời gian kéo dài tiến trình đàm phán tập thể giới hạn tối đa không quá 90 ngày tính từ ngày khai mạc phiên đàm phán, loại trừ tình huống các bên đạt được thỏa thuận gia hạn khác.
Quãng thời gian tham gia vào các buổi họp đàm phán tập thể của các cá nhân thuộc ban đại diện người lao động mặc nhiên được gộp tính vào thời giờ làm việc hành chính bình thường và hưởng trọn vẹn lương. Kịch bản nhân sự là thành viên của đoàn thể đại diện người lao động trực tiếp tham dự các phiên họp đàm phán tập thể thì thời lượng tham gia đó hoàn toàn không bị trừ vào quỹ thời gian quy chuẩn tại khoản 2 Điều 176 thuộc Bộ luật này.
(Chi tiết nội dung khoản 2 Điều 176 thuộc Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 điều chỉnh: Điều 176. Quyền lợi của cá nhân thuộc ban điều hành của đoàn thể đại diện người lao động tại cơ sở... 2. Cơ quan Chính phủ chế định rõ quỹ thời gian tối thiểu mà bên sử dụng thù lao bắt buộc phải dành cho toàn bộ các thành viên thuộc ban điều hành của đoàn thể đại diện lao động tại cơ sở nhằm thực thi các trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức đại diện bám sát dựa trên tổng lượng thành viên của đoàn thể đó).
3. Suốt chu kỳ triển khai đàm phán tập thể, nếu phát sinh văn bản yêu cầu từ phía ban đại diện người lao động thì trong vòng 10 ngày tính từ mốc tiếp nhận văn bản, chủ sử dụng lao động chịu trách nhiệm cung cấp minh bạch các thông tin dữ liệu về diễn biến tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh phối hợp cùng những nội dung khác liên quan trực tiếp tới mục tiêu đàm phán trong phạm vi nội bộ công ty nhằm hậu thuẫn tốt nhất cho tiến trình đàm phán tập thể; loại trừ tuyệt đối các nguồn dữ liệu thuộc diện bí mật kinh doanh hoặc bảo mật công nghệ của chủ sử dụng lao động.
4. Đoàn thể đại diện tập thể nhân sự tại cơ sở nắm giữ quyền hạn đứng ra tổ chức thảo luận, thu thập ý kiến đóng góp của người lao động về các danh mục nội dung, phương thức triển khai cùng kết quả chung cuộc của tiến trình đàm phán tập thể.
Ban đại diện lao động tại cơ sở đưa ra quyết định về mặt quỹ thời gian, không gian địa điểm cùng giải pháp tổ chức bàn bạc, lấy ý kiến nhân sự nhưng phải cam đoan không được gây tác động tiêu cực, cản trở tới hoạt động vận hành sản xuất, kinh doanh hành chính thường nhật của công ty.
Chủ doanh nghiệp nghiêm cấm phát sinh hành vi gây khó dễ, ngăn cản hoặc can thiệp thô bạo vào tiến trình đoàn thể đại diện người lao động triển khai thảo luận, thu thập ý kiến từ nhân sự.
5. Tiến trình đàm phán tập thể bắt buộc phải được ghi nhận minh bạch vào văn bản biên bản cuộc họp, trong nội dung bóc tách rõ ràng các hạng mục đã đạt được sự đồng thuận chung của đôi bên cùng các điều khoản còn tồn tại quan điểm sai lệch, xung đột. Văn bản biên bản đàm phán tập thể bắt buộc phải cấu thành bởi chữ ký xác thực của đại diện có thẩm quyền các bên đàm phán phối hợp cùng chữ ký của thư ký ghi nhận biên bản. Đoàn thể đại diện tập thể lao động tại cơ sở chịu trách nhiệm công khai rộng rãi, phổ biến toàn văn văn bản biên bản đàm phán tập thể tới toàn thể người lao động trong cơ sở.
Chiểu theo nội dung quy định tại Điều 71 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 làm rõ:
1. Tiến trình đàm phán tập thể bị xem là bất thành khi rơi vào một trong số các hoàn cảnh cụ thể sau đây:
a) Một bên tham gia chủ động khước từ đàm phán hoặc trì hoãn không triển khai phiên đàm phán trong hạn định quỹ thời gian quy chuẩn tại khoản 1 Điều 70 thuộc Bộ luật này; (Nội dung khoản 1 Điều 70 thuộc Bộ luật độc giả xem chi tiết tại mục số 5 phía trên).
b) Đã chạm mốc kết thúc khung thời hạn quy chuẩn tại khoản 2 Điều 70 thuộc Bộ luật này nhưng các bên tham gia hoàn toàn không thiết lập được tiếng nói chung; (Nội dung khoản 2 Điều 70 thuộc Bộ luật độc giả xem chi tiết tại mục số 5 phía trên).
c) Chưa chạm mốc kết thúc khung thời hạn quy chuẩn tại khoản 2 Điều 70 thuộc Bộ luật này nhưng các bên tham gia cùng nhau đồng thuận xác thực và ra văn bản tuyên bố công khai về việc tiến trình đàm phán tập thể lâm vào bế tắc, không đạt được thỏa thuận chung. (Nội dung khoản 2 Điều 70 thuộc Bộ luật độc giả xem chi tiết tại mục số 5 phía trên).
2. Khi tiến trình đàm phán rơi vào kịch bản bất thành, các bên tham gia triển khai các bước thủ tục xử lý xung đột (giải quyết tranh chấp) lao động tuân thủ theo đúng các quy chuẩn quy định tại Bộ luật này. Suốt giai đoạn cơ quan chức năng đang xử lý tranh chấp lao động, đoàn thể đại diện tập thể nhân sự tuyệt đối không được phép tổ chức hoạt động lãn công (đình công).
Triển khai tuân thủ nghiêm chỉnh các chế định tại Điều 72 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 cụ thể như sau:
1. Hệ thống nguyên tắc nền tảng cùng danh mục nội dung áp dụng cho đàm phán tập thể phân khúc ngành hay đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp thực hiện bám sát theo đúng các quy chuẩn điều chỉnh ở Điều 66 và Điều 67 thuộc Bộ luật này. (Chi tiết Điều 66 và Điều 67 độc giả tham chiếu tại mục số 1 và mục số 2 phía trên).
2. Quy trình và các bước tiến hành cuộc đàm phán tập thể cấp ngành, đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp sẽ do các bên tham gia tự bàn bạc đàm phán quyết định, bao gồm cả phương án đồng thuận thực hiện tiến trình đàm phán tập thể thông qua hệ thống Hội đồng đàm phán tập thể quy chuẩn ở Điều 73 thuộc Bộ luật này. (Chi tiết nội dung Điều 73 độc giả tham chiếu tại mục số 8 phía dưới).
3. Đối với hoàn cảnh triển khai đàm phán tập thể cấp ngành thì thành phần đại diện đàm phán sẽ do tổ chức công đoàn ngành phối hợp cùng tổ chức đại diện bên sử dụng lao động cấp ngành trực tiếp đứng ra quyết định.
Đối với hoàn cảnh triển khai đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp thì thành phần cá nhân đại diện đàm phán sẽ do hệ thống các bên tham gia tự đứng ra quyết định bám sát trên tinh thần tự nguyện, đồng thuận bàn bạc.
Thực hiện bám sát theo các nguyên tắc tại Điều 73 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 cụ thể như sau:
Điều 73. Hoạt động đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp triển khai thông qua hệ thống Hội đồng đàm phán tập thể
1. Dựa trên nền tảng đồng lòng thống nhất, các bên tham gia đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp được quyền gửi văn bản yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại khu vực đặt văn phòng trụ sở chính của các công ty tham gia đàm phán hoặc địa điểm do đôi bên thống nhất chọn lựa (áp dụng cho kịch bản các đơn vị tham gia sở hữu trụ sở đặt tại ranh giới nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau) đứng ra thành lập Hội đồng đàm phán tập thể nhằm tiến hành các phiên đàm phán tập thể.
2. Ngay khi tiếp nhận văn bản đề nghị của các bên tham gia đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định thành lập Hội đồng đàm phán tập thể phục vụ khâu tổ chức đàm phán. Cấu phần thành viên Hội đồng đàm phán tập thể cấu thành bởi:
a) Vị trí Người đứng đầu (Chủ tịch) Hội đồng do các bên tham gia bàn bạc quyết định, nắm giữ trách nhiệm điều tiết toàn bộ hoạt động của Hội đồng đàm phán tập thể, trợ lực tối đa cho tiến trình đàm phán tập thể của các bên;
b) Các cá nhân đại diện của các bên tham gia đàm phán tập thể do từng bên trực tiếp cử ra. Định lượng số lượng đại diện của mỗi phía tham gia vào Hội đồng do các bên đàm phán tự thống nhất;
c) Cá nhân đại diện thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
3. Hệ thống Hội đồng đàm phán tập thể triển khai tiến trình đàm phán dựa theo đòi hỏi nguyện vọng của các bên và sẽ tự chấm dứt vận hành hoạt động khi văn bản thỏa ước lao động tập thể quy mô liên doanh nghiệp chính thức được xác lập ký kết, hoặc căn cứ theo văn bản thống nhất hủy bỏ của các bên.
4. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm chế định rõ chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm cùng phương thức hoạt động của Hội đồng đàm phán tập thể.
(Khoản này được chỉ dẫn chi tiết bởi các chương mục tại Chương III thuộc văn bản Thông tư 10/2020/TT-BLĐTBXH. Chi tiết nội dung văn phòng đào tạo Kế Toán Thiên Ưng mời độc giả theo dõi tại bài viết: Hội đồng thương lượng tập thể: thành lập, chức năng, nhiệm vụ).
Triển khai bám sát theo các quy chuẩn quy định tại Điều 74 thuộc văn bản Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 như sau:
1. Chủ trì tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng năng lực nghiệp vụ cùng kỹ nghệ đàm phán tập thể cho các chủ thể tham gia.
2. Xây dựng kế hoạch và cung ứng minh bạch hệ thống các nguồn thông tin, dữ liệu về tình hình kinh tế - xã hội, diễn biến thị trường lao động, thực trạng quan hệ lao động nhằm hỗ trợ đắc lực và thúc đẩy tiến trình đàm phán tập thể.
3. Chủ động hoặc căn cứ khi tiếp nhận yêu cầu từ cả đôi bên tham gia đàm phán tập thể, đứng ra hỗ trợ, trợ lực để các chủ thể nhanh chóng tháo gỡ vướng mắc, đạt được thỏa thuận chung cuộc suốt tiến trình đàm phán tập thể; kịch bản khuyết thiếu văn bản đề nghị, tiến trình chủ động hỗ trợ từ phía Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ được phép triển khai nếu đạt được sự chấp thuận đồng ý từ các bên.
4. Ban hành quyết định kiến tạo Hội đồng đàm phán tập thể khi tiếp nhận văn bản yêu cầu hợp pháp phát ra từ các bên tham gia đàm phán tập thể quy mô liên doanh nghiệp tuân thủ các nguyên tắc tại Điều 73 thuộc Bộ luật này. (Nội dung Điều 73 độc giả xem chi tiết tại mục số 8 phía trên).
Căn cứ theo nội dung điều chỉnh tại Điều 16 thuộc Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy chuẩn về xử phạt vi phạm hành chính trong phân khúc lao động chế định cụ thể:
1. Khấu trừ tài chính bằng hình thức phạt tiền từ 1.000.000 đồng cho đến 3.000.000 đồng áp dụng đối với chủ sử dụng thù lao phát sinh một trong các hành vi sai phạm sau đây:
a) Trì hoãn việc gửi văn bản thỏa ước lao động tập thể tới cơ quan quản lý chuyên môn về lao động trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đơn vị đặt trụ sở doanh nghiệp chính theo luật định;
b) Khước từ việc chi trả các khoản chi phí phục vụ cho tiến trình đàm phán; khâu xác lập ký kết; sửa đổi, hoàn thiện bổ sung; nộp gửi; công bố văn bản thỏa ước lao động tập thể;
c) Cung cấp nguồn thông tin dữ liệu sai lệch mốc thời gian quy chuẩn hoặc đưa ra các thông tin thiếu chính xác, sai sự thật liên quan đến: diễn biến tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh; những hạng mục khác liên đới trực tiếp tới nội dung đàm phán khi nhận được văn bản yêu cầu từ phía ban đại diện người lao động nhằm tổ chức đàm phán tập thể;
d) Bỏ sót không thực hiện công bố rộng rãi văn bản thỏa ước lao động tập thể đã hoàn tất ký kết cho toàn thể nhân sự lao động cùng biết.
2. Khấu trừ tài chính bằng hình thức phạt tiền từ 3.000.000 đồng cho đến 5.000.000 đồng áp dụng đối với chủ sử dụng thù lao phát sinh một trong số các hành vi sai phạm cụ thể sau:
a) Khước từ nghĩa vụ cung ứng thông tin dữ liệu liên quan đến: diễn biến tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh; các nội dung khác gắn liền trực tiếp với mục tiêu đàm phán khi nhận được văn bản yêu cầu từ phía ban đại diện người lao động nhằm tổ chức đàm phán tập thể;
b) Từ chối chuẩn bị, sắp xếp chu đáo về mặt quỹ thời gian, vị trí không gian địa điểm hoặc hệ thống điều kiện vật chất nền tảng cần thiết phục vụ khâu tổ chức các phiên họp đàm phán tập thể.
3. Khấu trừ tài chính bằng hình thức phạt tiền từ 10.000.000 đồng cho đến 15.000.000 đồng áp dụng đối với chủ sử dụng lao động rơi vào một trong số các lỗi vi phạm cụ thể sau:
a) Chủ động từ chối, khước từ việc tham gia đàm phán tập thể khi tiếp nhận được văn bản đề nghị hợp pháp phát ra từ bên yêu cầu đàm phán;
b) Thực hiện cố tình triển khai áp dụng các hạng mục nội dung nằm trong văn bản thỏa ước lao động tập thể vốn đã bị cơ quan có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu;
c) Phát sinh hành vi gây khó dễ, cản trở hoặc can thiệp thô bạo vào tiến trình tổ chức đoàn thể đại diện người lao động triển khai thảo luận, thu thập ý kiến đóng góp từ phía nhân sự.