Các nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính theo Thông tư 99

Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính theo Thông tư 99/2025/TT-BTC

Thông tư 99/2025/TT-BTC quy định các nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính áp dụng cho doanh nghiệp kể từ năm tài chính bắt đầu vào hoặc sau ngày 01/01/2026. Các nguyên tắc này hướng dẫn việc ghi nhận, phân loại, trình bày tài sản, nợ phải trả, doanh thu, chi phí và các thông tin tài chính nhằm đảm bảo tính trung thực, hợp lý của báo cáo.

I. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính đối với doanh nghiệp hoạt động liên tục

Theo quy định tại Điều 20 Thông tư 99/2025/TT-BTC:

1. Việc lập và trình bày Báo cáo tài chính phải thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 về trình bày Báo cáo tài chính và các chuẩn mực kế toán liên quan. Những thông tin có tính trọng yếu cần được thuyết minh đầy đủ để người sử dụng báo cáo hiểu chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp.

2. Báo cáo tài chính phải phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện phát sinh, không chỉ căn cứ vào hình thức pháp lý của giao dịch hay sự kiện đó.

3. Giá trị tài sản không được ghi nhận vượt quá giá trị có thể thu hồi, đồng thời các khoản nợ phải trả không được ghi nhận thấp hơn nghĩa vụ thực tế mà doanh nghiệp phải thanh toán.

4. Phân loại tài sản và nợ phải trả

Trên Báo cáo tình hình tài chính, tài sản và nợ phải trả được trình bày theo hai nhóm là ngắn hạn và dài hạn, đồng thời sắp xếp theo mức độ thanh khoản giảm dần.

a) Tài sản ngắn hạn

Một tài sản được xếp vào nhóm ngắn hạn khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Doanh nghiệp dự kiến thu hồi, bán hoặc sử dụng tài sản trong chu kỳ kinh doanh thông thường.
  • Tài sản được nắm giữ chủ yếu nhằm mục đích kinh doanh, thương mại.
  • Dự kiến thu hồi trong thời gian không quá 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.
  • Là tiền hoặc các khoản tương đương tiền, ngoại trừ trường hợp bị hạn chế sử dụng hoặc không được dùng để thanh toán nghĩa vụ nợ trong thời gian trên 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.

Những tài sản không đáp ứng các điều kiện trên được phân loại là tài sản dài hạn.

b) Nợ phải trả ngắn hạn

Một khoản nợ phải trả được phân loại là ngắn hạn nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Dự kiến thanh toán trong chu kỳ kinh doanh thông thường.
  • Được nắm giữ chủ yếu phục vụ mục đích kinh doanh.
  • Đến hạn thanh toán trong vòng 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.
  • Doanh nghiệp không có quyền trì hoãn nghĩa vụ thanh toán trong thời gian quá 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán, bao gồm cả các khoản vay, nợ thuê tài chính hoặc nghĩa vụ thanh toán bằng công cụ vốn theo lựa chọn của bên đối tác.

Các khoản phải trả cho nhà cung cấp, chi phí phải trả cho người lao động và các khoản chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc vốn lưu động vẫn được phân loại là nợ ngắn hạn, kể cả khi thời gian thanh toán kéo dài trên 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.

Các khoản nợ không đáp ứng điều kiện nêu trên được phân loại là nợ dài hạn.

Đối với các khoản nợ được ghi nhận là ngắn hạn, nếu trong khoảng thời gian từ sau ngày kết thúc kỳ kế toán đến trước ngày phát hành Báo cáo tài chính xảy ra các sự kiện sau thì đây được xem là sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán và không phải điều chỉnh số liệu:

  • Ký kết thỏa thuận chuyển nợ ngắn hạn thành nợ dài hạn.
  • Khắc phục vi phạm các điều khoản của khoản nợ dài hạn.
  • Chủ nợ chấp thuận thời gian ân hạn tối thiểu 12 tháng để doanh nghiệp khắc phục vi phạm các điều khoản của khoản nợ dài hạn.

Doanh nghiệp phải trình bày các sự kiện này trong phần Thuyết minh Báo cáo tài chính theo quy định.

c) Trình bày theo chu kỳ kinh doanh thông thường

Trường hợp doanh nghiệp lựa chọn phân loại tài sản và nợ phải trả dựa trên chu kỳ kinh doanh thông thường thì phải thuyết minh riêng phần giá trị dự kiến thu hồi hoặc thanh toán:

  • Trong thời hạn từ 12 tháng trở xuống kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.
  • Sau thời hạn 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.

Chu kỳ kinh doanh dùng để phân loại tài sản và nợ phải trả phải được áp dụng thống nhất. Nếu không xác định được rõ chu kỳ kinh doanh thông thường thì mặc định được xem là 12 tháng.

d) Tái phân loại tài sản và nợ phải trả

Khi lập Báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải thực hiện việc chuyển các khoản mục dài hạn của kỳ trước sang ngắn hạn ở kỳ này nếu tại ngày kết thúc kỳ kế toán, các khoản mục đó đã đáp ứng điều kiện của tài sản ngắn hạn hoặc nợ phải trả ngắn hạn theo quy định, ngoại trừ các trường hợp không được tái phân loại theo hướng dẫn của Thông tư.

5. Tài sản và nợ phải trả phải được trình bày riêng biệt. Việc bù trừ chỉ được thực hiện khi các khoản mục liên quan đến cùng một đối tượng, có thời gian luân chuyển nhanh, thời hạn ngắn và phát sinh từ cùng loại giao dịch hoặc sự kiện.

6. Doanh thu, thu nhập và các khoản chi phí liên quan trực tiếp phải được trình bày theo nguyên tắc phù hợp và thận trọng. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh các khoản doanh thu, thu nhập, chi phí và dòng tiền của kỳ báo cáo. Trường hợp phát hiện sai sót trọng yếu của các kỳ trước thì phải điều chỉnh hồi tố theo quy định hiện hành.

7. Nếu doanh nghiệp có đơn vị trực thuộc thì Báo cáo tài chính phải tổng hợp số liệu của cả trụ sở chính và các đơn vị trực thuộc. Các khoản mục nội bộ trên Báo cáo tình hình tài chính cũng như doanh thu, chi phí, lãi hoặc lỗ chưa thực hiện phát sinh từ giao dịch nội bộ phải được loại trừ khi lập báo cáo.

II. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính khi thay đổi kỳ kế toán

Theo quy định tại Điều 21 Thông tư 99/2025/TT-BTC:

Khi doanh nghiệp thực hiện thay đổi kỳ kế toán, chẳng hạn chuyển từ năm tài chính theo năm dương lịch sang một kỳ kế toán khác, doanh nghiệp phải thực hiện khóa sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính theo các nguyên tắc dưới đây:

1. Việc thay đổi kỳ kế toán phải tuân thủ quy định của Luật Kế toán. Trường hợp thay đổi kỳ kế toán năm, doanh nghiệp phải lập riêng Báo cáo tài chính cho khoảng thời gian chuyển tiếp giữa năm tài chính cũ và năm tài chính mới.

2. Đối với Báo cáo tình hình tài chính

Toàn bộ số dư về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu tại thời điểm kết thúc kỳ kế toán trước khi thay đổi được ghi nhận là số đầu kỳ của kỳ kế toán mới và trình bày tại cột “Số đầu năm”.

3. Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Đối với giai đoạn từ ngày kết thúc kỳ kế toán cũ đến thời điểm chuyển đổi kỳ kế toán, số liệu phát sinh được trình bày tại cột “Kỳ này”.

Cột “Kỳ trước” phản ánh số liệu tương ứng của kỳ kế toán liền trước hoặc số liệu của 12 tháng thuộc năm tài chính trước đó.

4. Doanh nghiệp phải trình bày rõ các nội dung sau:

a) Nguyên nhân dẫn đến việc thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm.

b) Các số liệu dùng để so sánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và các nội dung thuyết minh liên quan.

Trường hợp số liệu tại cột “Kỳ trước” trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lấy từ 12 tháng của năm tài chính liền trước, doanh nghiệp phải giải thích rõ việc không thể so sánh trực tiếp giữa kỳ báo cáo và kỳ đối chiếu theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày Báo cáo tài chính.

III. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp

Theo Điều 22 Thông tư 99/2025/TT-BTC:

Khi thực hiện chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, đơn vị phải khóa sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính theo quy định pháp luật. Trong kỳ kế toán đầu tiên sau khi chuyển đổi, việc ghi sổ kế toán và trình bày Báo cáo tài chính được thực hiện như sau:

1. Đối với sổ kế toán phản ánh tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu

Toàn bộ số dư về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trước khi chuyển đổi được ghi nhận là số dư đầu kỳ trên sổ kế toán của doanh nghiệp sau chuyển đổi.

2. Đối với Báo cáo tình hình tài chính

Toàn bộ tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được kế thừa từ doanh nghiệp trước khi chuyển đổi được ghi nhận là số đầu kỳ của doanh nghiệp mới và trình bày tại cột “Số đầu năm”.

3. Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Số liệu phát sinh từ thời điểm chuyển đổi đến cuối kỳ báo cáo đầu tiên được phản ánh tại cột “Kỳ này”.

Cột “Kỳ trước” trình bày số liệu lũy kế từ đầu năm báo cáo đến thời điểm hoàn tất việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

Trường hợp không thể thực hiện so sánh giữa số liệu của kỳ báo cáo và kỳ đối chiếu, doanh nghiệp phải thuyết minh rõ nguyên nhân theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 – Trình bày Báo cáo tài chính.

IV. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính khi chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp

Theo Điều 23 Thông tư 99/2025/TT-BTC:

1. Nguyên tắc chung

a) Trường hợp sáp nhập doanh nghiệp

a1) Khi thực hiện sáp nhập, doanh nghiệp nhận sáp nhập và doanh nghiệp bị sáp nhập phải tuân thủ các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và các quy định pháp luật liên quan.

a2) Việc xác định giá trị tài sản thuần mà doanh nghiệp nhận sáp nhập tiếp nhận từ doanh nghiệp bị sáp nhập được thực hiện theo các trường hợp sau:

(i) Nếu giao dịch sáp nhập đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 – Hợp nhất kinh doanh và việc sáp nhập diễn ra giữa các doanh nghiệp cùng thuộc sự kiểm soát chung, doanh nghiệp nhận sáp nhập ghi nhận tài sản và nợ phải trả nhận được theo giá trị ghi sổ trên Báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp bị sáp nhập tại thời điểm sáp nhập.

(ii) Trường hợp giao dịch sáp nhập đáp ứng định nghĩa hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 nhưng các doanh nghiệp không thuộc cùng sự kiểm soát chung, doanh nghiệp nhận sáp nhập ghi nhận tài sản và nợ phải trả tiếp nhận theo phương pháp mua quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 – Hợp nhất kinh doanh.

(iii) Nếu giao dịch sáp nhập không đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11, doanh nghiệp nhận sáp nhập ghi nhận các tài sản và nợ phải trả tiếp nhận như một giao dịch mua một nhóm tài sản hoặc mua tài sản thuần.

a3) Xác định giá phí của giao dịch sáp nhập doanh nghiệp

(i) Trường hợp doanh nghiệp nhận sáp nhập sử dụng các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết, các khoản đầu tư khác; hoặc thanh toán thêm bằng tiền; hoặc dùng tài sản phi tiền tệ như hàng tồn kho, tài sản cố định, bất động sản đầu tư; hoặc phát hành công cụ vốn để thanh toán cho các nhà đầu tư khác khi thực hiện sáp nhập doanh nghiệp thì việc xác định giá trị các khoản đầu tư, tài sản phi tiền tệ hoặc công cụ vốn phát hành được thực hiện như sau:

  • Nếu giao dịch sáp nhập đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh thì giá trị của tài sản phi tiền tệ dùng để trao đổi, các khoản nợ phải trả phát sinh và công cụ vốn phát hành được xác định theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh.
  • Nếu giao dịch sáp nhập không đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh thì doanh nghiệp nhận sáp nhập ưu tiên sử dụng giá trị hợp lý của tài sản và công nợ nhận được tại ngày trao đổi để xác định giá trị thanh toán của tài sản phi tiền tệ mang đi hoặc công cụ vốn phát hành phục vụ giao dịch sáp nhập.

Trường hợp giá trị hợp lý của tài sản và công nợ nhận về tại ngày trao đổi không xác định được hoặc không đủ độ tin cậy thì doanh nghiệp căn cứ vào giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi hoặc giá trị được xác định từ các bằng chứng, phương pháp tính toán đáng tin cậy hơn.

Khoản chênh lệch giữa giá trị cổ phiếu phát hành và mệnh giá cổ phiếu (nếu có) được ghi nhận vào thặng dư vốn. Chênh lệch giữa giá trị hợp lý và giá trị ghi sổ của hàng tồn kho, tài sản cố định, bất động sản đầu tư... (nếu phát sinh) được ghi nhận vào kết quả hoạt động kinh doanh của kỳ tương tự như giao dịch bán hoặc trao đổi các tài sản này.

Nếu giá thanh toán được xác định chung cho nhiều tài sản phi tiền tệ dùng để trao đổi thì căn cứ vào sự hiểu biết của các bên tại thời điểm giao dịch, doanh nghiệp nhận sáp nhập phải xác định giá trị cho từng tài sản theo phương pháp phân bổ có hệ thống, chẳng hạn dựa trên giá trị ghi sổ hoặc giá trị hợp lý tại ngày trao đổi.

Các bên liên quan phải tuân thủ quy định pháp luật khi xác định giá trị của tài sản phi tiền tệ dùng trong giao dịch sáp nhập. Việc đánh giá lại giá trị ghi sổ của tài sản phi tiền tệ chỉ được thực hiện khi có bằng chứng đầy đủ và đáng tin cậy chứng minh giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm trao đổi khác với giá trị ghi sổ kế toán. Các bên tham gia giao dịch và các bên có liên quan phải chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu cố ý xác định sai giá trị tài sản phi tiền tệ sử dụng cho giao dịch sáp nhập.

(ii) Doanh nghiệp nhận sáp nhập phải ngừng ghi nhận các tài sản hoặc lợi ích được sử dụng để thực hiện giao dịch sáp nhập như các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, công ty liên kết, các khoản đầu tư khác, công cụ vốn phát hành, tiền, tài sản phi tiền tệ hoặc các lợi ích khác theo giá trị ghi sổ trên Báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp nhận sáp nhập.

Giá trị ghi sổ này được xác định theo giá gốc sau khi trừ các khoản dự phòng tổn thất tài sản hoặc bằng nguyên giá trừ giá trị hao mòn lũy kế đối với tài sản cố định và bất động sản đầu tư.

a4) Nguyên tắc kế toán đối với khoản chênh lệch giữa giá phí sáp nhập và giá trị tài sản thuần nhận được

Áp dụng đối với các giao dịch sáp nhập đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh.

(i) Trường hợp giao dịch sáp nhập được thực hiện giữa các đơn vị cùng chịu sự kiểm soát chung, phần chênh lệch giữa giá phí sáp nhập và giá trị ghi sổ của tài sản thuần trên Báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp bị sáp nhập được ghi nhận toàn bộ vào Tài khoản 4118 - Vốn khác.

Khoản chênh lệch này được kết chuyển định kỳ sang Tài khoản 421 - Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối trên sổ kế toán của doanh nghiệp nhận sáp nhập trong thời gian tối đa 10 năm kể từ ngày sáp nhập, theo phương pháp đường thẳng hoặc phương pháp phù hợp hơn.

(ii) Trường hợp giao dịch sáp nhập diễn ra giữa các bên không cùng chịu sự kiểm soát chung, phần chênh lệch giữa giá phí sáp nhập và giá trị hợp lý của tài sản thuần có thể xác định được trên Báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp bị sáp nhập được xử lý như lợi thế thương mại hoặc bất lợi thương mại theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh.

a5) Xử lý các giao dịch nội bộ khi sáp nhập doanh nghiệp

Nếu trong quá trình sáp nhập có phát sinh các giao dịch nội bộ liên quan đến mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, tài sản cố định... thì sau khi tiếp nhận tài sản thuần từ công ty con, công ty mẹ phải thực hiện loại trừ các giao dịch nội bộ trước khi lập và trình bày Báo cáo tài chính riêng của kỳ kế toán có phát sinh việc sáp nhập.

a6) Nghĩa vụ thuế liên quan đến các giao dịch nội bộ

Việc xác định nghĩa vụ thuế phát sinh từ các giao dịch nội bộ về mua bán hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định... trong quá trình sáp nhập được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phát sinh từ chênh lệch tạm thời giữa giá trị tài sản thuần và cơ sở tính thuế của tài sản thuần (bao gồm trường hợp phát sinh lãi hoặc lỗ chưa thực hiện từ các giao dịch nội bộ) được doanh nghiệp nhận sáp nhập hạch toán theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 - Thuế thu nhập doanh nghiệp.

a7) Các trường hợp sáp nhập khác

Đối với các trường hợp sáp nhập không thuộc những nội dung đã nêu, doanh nghiệp căn cứ vào các nguyên tắc của hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam, hướng dẫn tại Thông tư này và bản chất của giao dịch để thực hiện hạch toán kế toán phù hợp.

b) Đối với trường hợp chia, tách, hợp nhất doanh nghiệp

b1) Nguyên tắc thực hiện khi chia, tách, hợp nhất doanh nghiệp

Khi thực hiện chia, tách hoặc hợp nhất doanh nghiệp, các bên liên quan gồm doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp bị chia, bị tách hoặc bị hợp nhất phải tuân thủ các quy định của pháp luật về doanh nghiệp và các quy định pháp luật có liên quan khác.

b2) Xác định giá trị tài sản thuần doanh nghiệp mới nhận được

Việc xác định giá trị tài sản thuần tiếp nhận từ doanh nghiệp bị chia, tách hoặc hợp nhất được thực hiện như sau:

(i) Trường hợp hợp nhất doanh nghiệp

  • Nếu giao dịch hợp nhất đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh và được thực hiện giữa các doanh nghiệp cùng chịu sự kiểm soát chung thì doanh nghiệp mới ghi nhận các tài sản và nợ phải trả tiếp nhận từ doanh nghiệp bị hợp nhất theo giá trị ghi sổ trên Báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp bị hợp nhất tại thời điểm hợp nhất.
  • Nếu giao dịch hợp nhất đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh nhưng được thực hiện giữa các doanh nghiệp không cùng chịu sự kiểm soát chung thì doanh nghiệp mới ghi nhận tài sản và nợ phải trả nhận được theo phương pháp mua theo quy định tại Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh.
  • Nếu giao dịch hợp nhất không đáp ứng định nghĩa về hoạt động kinh doanh theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh thì doanh nghiệp ghi nhận các tài sản và nợ phải trả nhận được như một giao dịch mua nhóm tài sản hoặc mua tài sản thuần.

(ii) Trường hợp chia, tách doanh nghiệp

Doanh nghiệp mới ghi nhận giá trị tài sản thuần nhận được từ doanh nghiệp bị chia hoặc bị tách theo giá trị ghi sổ trên Báo cáo tài chính riêng của doanh nghiệp đó tại thời điểm thực hiện chia hoặc tách.

b3) Xác định giá trị công cụ vốn phát hành

Trường hợp doanh nghiệp mới phát hành công cụ vốn để thực hiện giao dịch chia, tách hoặc hợp nhất doanh nghiệp thì giá trị hợp lý của tài sản và nợ phải trả nhận được tại ngày trao đổi được ưu tiên sử dụng để xác định giá trị hợp lý của công cụ vốn phát hành.

Riêng trường hợp xác định giá trị công cụ vốn phục vụ việc tính giá phí hợp nhất kinh doanh thì doanh nghiệp thực hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 11 - Hợp nhất kinh doanh.

Nếu giá trị hợp lý của tài sản và công nợ nhận về không xác định được hoặc không đủ độ tin cậy thì giá trị hợp lý của công cụ vốn được xác định theo giá niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Trường hợp công cụ vốn không có giá niêm yết thì doanh nghiệp sử dụng giá trị được xác định từ các bằng chứng và phương pháp tính toán có độ tin cậy cao hơn.

Khoản chênh lệch phát sinh giữa giá trị cổ phiếu phát hành và mệnh giá cổ phiếu được ghi nhận vào thặng dư vốn.

b4) Các trường hợp khác

Đối với những trường hợp chia, tách hoặc hợp nhất doanh nghiệp không thuộc các trường hợp nêu trên, doanh nghiệp căn cứ vào các nguyên tắc của hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam, hướng dẫn tại Thông tư này và bản chất của giao dịch để thực hiện hạch toán kế toán phù hợp.

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập trong doanh nghiệp nhà nước

Đối với doanh nghiệp nhà nước, nếu có quy định riêng khác với các nguyên tắc tại Điều này thì việc chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp được thực hiện theo các quy định pháp luật áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước.

2. Nguyên tắc ghi sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp

Việc ghi nhận trên sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập được thực hiện theo các nguyên tắc sau:

a) Đối với sổ kế toán phản ánh tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu

a1) Giá trị tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu tiếp nhận từ doanh nghiệp bị sáp nhập được doanh nghiệp nhận sáp nhập ghi nhận là số phát sinh trong kỳ trên sổ kế toán. Số dư đầu kỳ của các khoản mục tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhận sáp nhập vẫn giữ nguyên.

a2) Đối với tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu tiếp nhận từ doanh nghiệp bị hợp nhất, doanh nghiệp mới ghi nhận là số phát sinh trong kỳ trên sổ kế toán. Các chỉ tiêu số dư đầu kỳ về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp mới không có số liệu.

a3) Phần tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được chuyển giao từ doanh nghiệp bị chia sang doanh nghiệp mới được ghi nhận là số phát sinh trong kỳ trên sổ kế toán của doanh nghiệp mới. Các chỉ tiêu số dư đầu kỳ của doanh nghiệp mới không phát sinh số liệu.

a4) Giá trị tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được bàn giao từ doanh nghiệp bị tách cho doanh nghiệp mới được phản ánh là số phát sinh trong kỳ trên sổ kế toán của doanh nghiệp mới. Doanh nghiệp mới không có số dư đầu kỳ đối với các khoản mục này, trong khi số dư đầu kỳ của doanh nghiệp bị tách vẫn được giữ nguyên.

b) Đối với Báo cáo tình hình tài chính

Trường hợp

Nguyên tắc trình bày

b1) Sáp nhập doanh nghiệp

Tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu nhận từ doanh nghiệp bị sáp nhập được tổng hợp và trình bày tại cột “Số cuối năm” trên Báo cáo tình hình tài chính. Cột “Số đầu năm” của doanh nghiệp nhận sáp nhập không thay đổi.

b2) Hợp nhất doanh nghiệp

Doanh nghiệp mới tổng hợp các giá trị tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu tiếp nhận để trình bày tại cột “Số cuối năm”. Cột “Số đầu năm” không có số liệu.

b3) Chia, tách doanh nghiệp

Doanh nghiệp mới ghi nhận và trình bày các giá trị tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu kế thừa từ doanh nghiệp bị chia hoặc bị tách vào cột “Số cuối năm”. Cột “Số đầu năm” của doanh nghiệp mới không có số liệu. Đối với doanh nghiệp bị tách, cột “Số đầu năm” vẫn được giữ nguyên.

c) Đối với Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

c1) Doanh nghiệp nhận sáp nhập chỉ ghi nhận và trình bày số liệu của doanh nghiệp bị sáp nhập phát sinh từ thời điểm sáp nhập đến hết kỳ báo cáo vào cột “Năm nay”. Số liệu tại cột “Năm trước” của doanh nghiệp nhận sáp nhập không thay đổi.

c2) Doanh nghiệp mới chỉ trình bày số liệu phát sinh từ thời điểm chia, tách hoặc hợp nhất đến hết kỳ báo cáo đầu tiên tại cột “Năm nay”. Cột “Năm trước” không có số liệu. Đối với doanh nghiệp bị tách, kể từ thời điểm tách doanh nghiệp sẽ không tiếp tục ghi nhận và trình bày số liệu liên quan đến phần doanh nghiệp đã được tách ra.

V. Nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính đối với doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Theo Điều 24 Thông tư 99/2025/TT-BTC:

1. Xác định doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Khi lập và trình bày Báo cáo tài chính, doanh nghiệp cần đánh giá các dấu hiệu cho thấy đơn vị không còn đáp ứng giả định hoạt động liên tục.

Doanh nghiệp được xem là không hoạt động liên tục nếu dự kiến giải thể, phá sản, chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động trong thời hạn không quá 12 tháng kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán.

Trường hợp tồn tại các yếu tố không chắc chắn trọng yếu có thể làm phát sinh nghi ngờ đáng kể về khả năng hoạt động liên tục, doanh nghiệp phải trình bày đầy đủ thông tin trong phần thuyết minh Báo cáo tài chính.

2. Một số trường hợp vẫn được coi là hoạt động liên tục

Doanh nghiệp không phải lập Báo cáo tài chính theo cơ sở không đáp ứng giả định hoạt động liên tục trong các trường hợp sau:

  • Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, bao gồm cả việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần;
  • Chia, tách, hợp nhất hoặc sáp nhập doanh nghiệp;
  • Chuyển đổi doanh nghiệp (công ty con) thành đơn vị trực thuộc (chi nhánh) hoặc thực hiện theo chiều ngược lại.

3. Hệ thống Báo cáo tài chính phải lập khi không đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Báo cáo tài chính

Mẫu biểu

Hình thức trình bày

Báo cáo tình hình tài chính

B 01 - DNKLT

Trình bày theo mẫu riêng

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

B 02 - DNKLT

Trình bày tương tự doanh nghiệp hoạt động liên tục

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

B 03 - DNKLT

Trình bày tương tự doanh nghiệp hoạt động liên tục

Thuyết minh Báo cáo tài chính

B 09 - DNKLT

Trình bày theo mẫu riêng

4. Xử lý tài sản và nợ phải trả khi không còn đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Khi giả định hoạt động liên tục không còn phù hợp tại ngày kết thúc kỳ kế toán, doanh nghiệp phải:

  • Chuyển toàn bộ tài sản dài hạn thành tài sản ngắn hạn;
  • Chuyển toàn bộ nợ phải trả dài hạn thành nợ phải trả ngắn hạn;
  • Đánh giá lại toàn bộ tài sản và nợ phải trả.

Quy định này không áp dụng nếu có bên thứ ba kế thừa quyền đối với tài sản hoặc nghĩa vụ liên quan đến nợ phải trả theo giá trị sổ sách.

Các khoản mục sau khi đánh giá lại phải được ghi nhận vào sổ kế toán trước khi lập Báo cáo tình hình tài chính.

5. Trường hợp không phải đánh giá lại tài sản và nợ phải trả

Doanh nghiệp không phải thực hiện đánh giá lại nếu có bên thứ ba tiếp nhận quyền hoặc nghĩa vụ liên quan, bao gồm:

a) Từng tài sản cụ thể được một bên khác cam kết hoặc bảo lãnh thu hồi theo giá trị ghi sổ trước thời điểm doanh nghiệp chính thức ngừng hoạt động.

b) Từng khoản nợ phải trả được bên thứ ba cam kết hoặc bảo lãnh thanh toán, và doanh nghiệp chỉ có trách nhiệm hoàn trả cho bên thứ ba theo giá trị sổ sách.

6. Nguyên tắc đánh giá lại tài sản và nợ phải trả

a) Đối với tài sản

Loại tài sản

Nguyên tắc đánh giá

Hàng tồn kho, tài sản sinh học, chi phí SXKD dở dang dài hạn, thiết bị, vật tư, phụ tùng thay thế dài hạn

Ghi nhận theo giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được

TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, bất động sản đầu tư, chi phí xây dựng cơ bản dở dang

Ghi nhận theo giá thấp hơn giữa giá trị còn lại và giá trị có thể thu hồi

Chứng khoán kinh doanh

Ghi nhận theo giá trị hợp lý

Các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, khoản phải thu, đầu tư vào công ty con, liên doanh, liên kết và đơn vị khác

Ghi nhận theo giá thấp hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị có thể thu hồi

Đối với TSCĐ thuê tài chính:

  • Nếu có điều khoản bắt buộc mua lại thì đánh giá tương tự TSCĐ của doanh nghiệp;
  • Nếu được hoàn trả cho bên cho thuê thì ghi nhận theo số nợ thuê tài chính còn phải thanh toán.

b) Đối với nợ phải trả

Nếu có thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên thì thực hiện đánh giá theo số tiền đã thỏa thuận.

Nếu không có thỏa thuận cụ thể:

Khoản nợ phải trả

Nguyên tắc đánh giá

Nợ phải trả bằng tiền

Ghi nhận theo giá trị cao hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị thanh toán trước hạn theo hợp đồng

Nợ phải trả bằng tài sản tài chính

Ghi nhận theo giá trị cao hơn giữa giá trị ghi sổ và giá trị hợp lý của tài sản tài chính

Nợ phải trả bằng hàng tồn kho

Ghi nhận theo giá trị cao hơn giữa giá trị ghi sổ và giá mua hoặc giá thành sản xuất

Nợ phải trả bằng TSCĐ

Ghi nhận theo giá trị cao hơn giữa giá trị ghi sổ và giá mua hoặc giá trị còn lại của TSCĐ

c) Đối với các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ

Các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được đánh giá lại theo tỷ giá mua bán chuyển khoản bình quân của ngân hàng thương mại nơi doanh nghiệp thường xuyên giao dịch tại ngày kết thúc kỳ kế toán.

Riêng tiền gửi ngoại tệ không kỳ hạn được đánh giá lại theo tỷ giá mua bán chuyển khoản bình quân của ngân hàng nơi mở tài khoản.

7. Phương pháp kế toán đối với một số tài sản

a) Các khoản dự phòng hoặc tổn thất tài sản được ghi giảm trực tiếp vào giá trị ghi sổ của tài sản, không sử dụng TK 229 - Dự phòng tổn thất tài sản.

b) Việc khấu hao hoặc ghi nhận tổn thất của TSCĐ và bất động sản đầu tư được hạch toán giảm trực tiếp vào giá trị tài sản, không sử dụng TK 214 - Hao mòn tài sản cố định.

8. Xử lý các vấn đề tài chính khi không còn đáp ứng giả định hoạt động liên tục

Doanh nghiệp phải thực hiện các nội dung sau:

  • Trích trước vào chi phí đối với các khoản lỗ dự kiến phát sinh trong tương lai nếu có cơ sở chắc chắn và xác định được giá trị đáng tin cậy;
  • Ghi nhận nghĩa vụ hiện tại đối với các khoản phải trả dù chưa đầy đủ hồ sơ nhưng chắc chắn phát sinh nghĩa vụ thanh toán;
  • Kết chuyển chênh lệch đánh giá lại tài sản thuộc vốn chủ sở hữu vào thu nhập khác nếu lãi hoặc chi phí khác nếu lỗ;
  • Kết chuyển toàn bộ chênh lệch tỷ giá lũy kế vào doanh thu hoạt động tài chính hoặc chi phí tài chính;
  • Ghi giảm toàn bộ chi phí chờ phân bổ chưa phân bổ hết để tính vào chi phí trong kỳ;
  • Công ty mẹ ngừng ghi nhận lợi thế thương mại trên Báo cáo tài chính hợp nhất, phần chưa phân bổ hết được đưa ngay vào chi phí quản lý doanh nghiệp;
  • Chênh lệch lãi, lỗ do đánh giá lại tài sản và nợ phải trả sau khi bù trừ dự phòng được ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính, thu nhập khác, chi phí tài chính hoặc chi phí khác tùy từng trường hợp.

9. Yêu cầu thuyết minh trên Báo cáo tài chính

Khi doanh nghiệp không còn đáp ứng giả định hoạt động liên tục, phải thuyết minh đầy đủ về:

  1. Khả năng tạo ra dòng tiền;
  2. Khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả;
  3. Khả năng thanh toán cho chủ sở hữu.

Đồng thời, doanh nghiệp phải phân loại lại số liệu so sánh trên Báo cáo tài chính của kỳ đầu tiên không đáp ứng giả định hoạt động liên tục nhằm bảo đảm tính so sánh giữa các kỳ, trừ trường hợp không thể thực hiện được.

Nếu không thể phân loại lại số liệu so sánh, doanh nghiệp phải giải trình rõ nguyên nhân và trình bày các nội dung sau:

  • Giá trị có thể thu hồi từ việc thanh lý tài sản hoặc thu hồi công nợ;
  • Khả năng thanh toán các khoản nợ theo thứ tự ưu tiên;
  • Khả năng chi trả cho chủ sở hữu, bao gồm số tiền dự kiến nhận được trên mỗi cổ phiếu đối với công ty cổ phần;
  • Thời gian dự kiến thực hiện thanh toán nợ phải trả và vốn chủ sở hữu;
  • Nguyên nhân dẫn đến việc không thể so sánh số liệu giữa kỳ báo cáo và kỳ so sánh do kỳ trước được lập theo giả định hoạt động liên tục, trong khi kỳ hiện tại được lập trên cơ sở doanh nghiệp không còn đáp ứng giả định này.

Liên hệ Kế toán Thuế Đà Nẵng để được tư vấn chi tiết 0983 542 571

Đăng ký nhận khuyến mãi Kế Toán Thuế Đà Nẵng

zalo