google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk
Hoạt động chuyển nhượng chứng khoán, cổ phiếu, cổ phần của doanh nghiệp là một mảng nghiệp vụ đặc thù. Khác với cá nhân (thường tính thẳng theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán), doanh nghiệp khi phát sinh thu nhập từ hoạt động này phải tính thuế dựa trên lợi nhuận thực tế và chịu mức thuế suất phổ thông.
Dưới đây là cẩm nang tổng hợp toàn diện về thuế suất, cách tính, phương thức kê khai và cách phân biệt bản chất giữa chuyển nhượng chứng khoán và chuyển nhượng vốn áp dụng cho năm tài chính 2026.
Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán (bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác) được phân loại vào nhóm Thu nhập khác của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp xác định số thuế phải nộp theo công thức cơ bản sau (không sử dụng công thức toán học phức tạp):
Thuế TNDN phải nộp = Thu nhập tính thuế x 20%
Thu nhập tính thuế = Giá bán chứng khoán - Giá mua chứng khoán - Chi phí liên quan trực tiếp
Giá bán chứng khoán:
Chứng khoán niêm yết/đăng ký giao dịch (Sàn HOSE, HNX, UPCoM): Là giá thực tế khớp lệnh hoặc giá thỏa thuận theo xác nhận của Sở Giao dịch chứng khoán.
Chứng khoán chưa niêm yết (Công ty cổ phần thông thường): Là giá chuyển nhượng thực tế được thỏa thuận và ghi nhận trực tiếp trên hợp đồng chuyển nhượng.
Giá mua chứng khoán:
Mua trên sàn: Giá thực mua (giá khớp lệnh/thỏa thuận) tại thời điểm mua.
Mua qua đấu giá: Giá trúng đấu giá ghi trên thông báo kết quả của tổ chức đấu giá và chứng từ nộp tiền.
Mua ngoài sàn: Giá mua xác định theo hợp đồng chuyển nhượng tại thời điểm mua.
Chi phí liên quan trực tiếp: Là các khoản chi thực tế phát sinh phục vụ cho việc chuyển nhượng, bắt buộc phải có hóa đơn, chứng từ hợp pháp, bao gồm: Phí làm thủ tục pháp lý, phí và lệ phí công chứng/chuyển nhượng, phí lưu ký chứng khoán, phí ủy thác, chi phí giao dịch, đàm phán hợp đồng.
Doanh nghiệp được phép bù trừ linh hoạt giữa lỗ của hoạt động chuyển nhượng chứng khoán với lãi của hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường (và ngược lại) trong kỳ tính thuế.
Sau khi bù trừ, phần thu nhập còn lại cuối cùng sẽ chịu mức thuế suất chung là 20%.
Căn cứ theo Luật Thuế giá trị gia tăng hiện hành, hoạt động chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn và chuyển nhượng chứng khoán thuộc đối tượng Không chịu thuế GTGT.
Cách xuất hóa đơn: Khi thực hiện chuyển nhượng chứng khoán, doanh nghiệp vẫn phải lập hóa đơn giao cho bên mua. Trên hóa đơn, tại dòng thuế suất và tiền thuế GTGT, kế toán thực hiện gạch chéo (/) hoặc để trống, không ghi nhận tiền thuế.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, thủ tục kê khai thuế đối với thu nhập từ kinh doanh chứng khoán được lồng ghép trực tiếp vào chu trình khai thuế TNDN tổng thể của công ty:
Hàng quý (Tạm nộp): Doanh nghiệp tự tính toán số chênh lệch lãi, lỗ từ hoạt động chuyển nhượng chứng khoán phát sinh trong quý để tự nộp số thuế tạm tính (nếu có lãi) vào Ngân sách Nhà nước. Doanh nghiệp không phải nộp tờ khai thuế TNDN tạm tính theo quý.
Cuối năm (Quyết toán): Khi kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp tổng hợp toàn bộ kết quả kinh doanh chứng khoán vào phần "Thu nhập khác" trên Tờ khai quyết toán thuế TNDN (Mẫu số 03/TNDN) và các phụ lục kết quả sản xuất kinh doanh đi kèm để xác định chính xác số thuế phải nộp cả năm.
Việc nhầm lẫn giữa hai khái niệm này thường xuyên xảy ra, dẫn đến sai sót nghiêm trọng về mặt hồ sơ và nghĩa vụ thuế, đặc biệt là khi xác định nghĩa vụ cho các cổ đông cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài.
Bảng dưới đây phân định rõ bản chất theo quy định hiện hành:
1. Giá trị nhận chuyển nhượng bằng hiện vật: Trường hợp doanh nghiệp chuyển nhượng chứng khoán nhưng không thu về tiền mặt mà nhận lại bằng tài sản khác (như nhận lại bằng cổ phiếu công ty khác, bất động sản, máy móc...), doanh nghiệp vẫn phải chịu thuế TNDN bình thường. Giá trị tài sản nhận về sẽ được quy đổi tương đương theo giá thị trường của tài sản đó tại thời điểm bàn giao để tính giá bán chứng khoán.
2. Phát hành cổ phiếu tăng vốn không chịu thuế: Khi doanh nghiệp tự phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn điều lệ (huy động vốn từ các cổ đông), phần thặng dư vốn phát sinh (chênh lệch giữa giá phát hành thực tế cao hơn mệnh giá 10.000 đồng) thuộc về nguồn vốn của doanh nghiệp, không bị tính vào thu nhập chịu thuế để tính thuế TNDN.
3. Kiểm tra tính hợp lý của chi phí hợp đồng: Các chi phí môi giới chứng khoán hoặc chi phí tư vấn đàm phán hợp đồng ngoài sàn thường có giá trị lớn. Kế toán bắt buộc phải yêu cầu bên cung cấp dịch vụ xuất hóa đơn hợp pháp và thực hiện thanh toán chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng của công ty (đặc biệt tuân thủ hạn mức bắt buộc không dùng tiền mặt từ 05 triệu đồng trở lên áp dụng hiện hành) thì mới được bảo toàn tính vào chi phí được trừ khi tính toán lợi nhuận chuyển nhượng.