google-site-verification=UUyX9etziW5VvF-yD44uBQdTGifLZ1mK4WwEJzKhUWk

Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng 2026

Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng 2026

Quy định về đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng mới nhất năm 2026 và thời kỳ trước ngày 01/07/2025

Hệ thống pháp luật về thuế giá trị gia tăng (GTGT) được phân định rõ rệt giữa quy định mới nhất áp dụng ổn định cho năm 2026 (theo Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15) và quy định thuộc thời kỳ lịch sử trước ngày 01/07/2025 (theo Thông tư số 219/2013/TT-BTC). Việc nắm vững đối tượng chịu thuế và người nộp thuế qua các thời kỳ giúp doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ kê khai, tránh rủi ro pháp lý.

Dưới đây là cẩm nang tổng hợp chi tiết toàn bộ quy định nêu trên, được biên tập với cấu trúc dòng mạch lạc, không sử dụng biểu tượng và chỉ viết hoa chữ cái đầu tiên của tiêu đề để kế toán dễ dàng sao chép trực tiếp vào Microsoft Word.

1. Quy định mới nhất năm 2026 theo Luật thuế GTGT số 48/2024/QH15 và Nghị định 181/2025/NĐ-CP

1.1. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng

Căn cứ theo Điều 3 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, đối tượng chịu thuế bao gồm toàn bộ hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho mục đích sản xuất, kinh doanh cũng như tiêu dùng tại Việt Nam, trừ các đối tượng thuộc diện không chịu thuế GTGT được quy định cụ thể tại Điều 5 của Luật này.

1.2. Người nộp thuế giá trị gia tăng

Theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 và các văn bản hướng dẫn thi hành, người nộp thuế bao gồm các nhóm đối tượng sau:

Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (Khoản 1 Điều 4 Luật và được hướng dẫn chi tiết bởi Khoản 1 Điều 3 Nghị định 181/2025/NĐ-CP):

Các tổ chức được thành lập và đăng ký hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã và các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

Các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu hoặc quản lý của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác có hoạt động kinh doanh.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư; các tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam dưới hình thức không thành lập pháp nhân.

Doanh nghiệp chế xuất khi thực hiện các hoạt động kinh doanh khác ngoài hoạt động sản xuất xuất khẩu thuần túy, phù hợp với quy định của pháp luật về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.

Hộ kinh doanh, cá nhân sản xuất, kinh doanh; các nhóm người kinh doanh độc lập.

Tất cả các tổ chức, cá nhân khác có phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế.

Người nhập khẩu hàng hóa (Khoản 2 Điều 4):

Mọi tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT qua các cửa khẩu, biên giới Việt Nam.

Tổ chức, cá nhân tại Việt Nam mua dịch vụ nước ngoài (Khoản 3 Điều 4):

Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (bao gồm cả trường hợp dịch vụ đi kèm với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, hoặc cá nhân nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam (trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5).

Tổ chức sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mua hàng hóa, dịch vụ từ tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài không cư trú để tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí.

Nhà cung cấp nước ngoài và tổ chức khấu trừ thay (Khoản 4 Điều 4 và được hướng dẫn bởi Điểm a Khoản 2 Điều 3 Nghị định 181/2025/NĐ-CP):

Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam.

Tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế cho nhà cung cấp nước ngoài.

Tổ chức kinh doanh tại Việt Nam áp dụng phương pháp khấu trừ thuế thực hiện mua dịch vụ của nhà cung cấp nước ngoài thông qua kênh thương mại điện tử hoặc nền tảng số, có trách nhiệm thực hiện khấu trừ và nộp thay nghĩa vụ thuế cho nhà cung cấp nước ngoài theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Nhà quản lý sàn thương mại điện tử khấu trừ thay (Khoản 5 Điều 4):

Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, tổ chức là nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán trực tuyến. Các đơn vị này thực hiện nghĩa vụ khấu trừ, nộp thuế thay và kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh hoạt động trên sàn thương mại điện tử hoặc nền tảng số đó. Việc hướng dẫn khấu trừ này tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định tại Nghị định số 117/2025/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 01/07/2025).

2. Quy định áp dụng cho thời kỳ lịch sử trước ngày 01/07/2025 theo Thông tư 219/2013/TT-BTC

2.1. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng thời kỳ trước năm 2025

Căn cứ theo Điều 2 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hóa, dịch vụ dùng cho mục đích sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT được hướng dẫn tại Điều 4 của Thông tư này.

2.2. Người nộp thuế giá trị gia tăng thời kỳ trước năm 2025

Theo quy định tại Điều 3 Thông tư số 219/2013/TT-BTC, người nộp thuế bao gồm tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế ở Việt Nam không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức kinh doanh và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế:

Các tổ chức kinh doanh được thành lập và đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước (cũ), Luật Hợp tác xã và pháp luật chuyên ngành khác.

Các tổ chức kinh tế trực thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác.

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật Đầu tư; các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam.

Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu.

Tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế (trừ trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 Thông tư này). Quy định về cơ sở thường trú và đối tượng không cư trú được thực hiện theo pháp luật về thuế TNDN và thuế TNCN.

Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được thành lập để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.

2.3. Ví dụ minh họa về doanh nghiệp chế xuất thời kỳ trước năm 2025

Công ty TNHH Sanko là một doanh nghiệp chế xuất. Ngoài hoạt động sản xuất sản phẩm để xuất khẩu, Công ty TNHH Sanko còn được cơ quan nhà nước cấp phép thực hiện quyền nhập khẩu để bán ra nội địa hoặc để xuất khẩu thương mại.

Để thực hiện hoạt động phân phối thương mại này theo đúng quy định pháp luật, Công ty TNHH Sanko bắt buộc phải thành lập một chi nhánh riêng. Chi nhánh này có nghĩa vụ hạch toán kế toán riêng biệt và tiến hành kê khai, nộp thuế GTGT độc lập đối với hoạt động phân phối này, hoàn toàn không được hạch toán chung vào hoạt động sản xuất để xuất khẩu của công ty mẹ.

Khi nhập khẩu hàng hóa về để thực hiện quyền phân phối (bán ra), Chi nhánh Công ty TNHH Sanko phải thực hiện kê khai và nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu. Đến khi bán hàng ra thị trường nội địa hoặc xuất khẩu thương mại, chi nhánh sử dụng hóa đơn, thực hiện kê khai và nộp thuế GTGT theo đúng quy định áp dụng cho doanh nghiệp thương mại thông thường.


 

Đăng ký nhận khuyến mãi Kế Toán Thuế Đà Nẵng

zalo